Thuốc ức chế men chuyển angiotensine.
Cơ chế tác động dược lý :
Perindopril là thuốc ức chế men chuyển
angiotensine I thành angiotensine II, chất gây co mạch đồng thời kích thích sự
bài tiết aldostérone ở vỏ thượng thận.
Kết quả là :
- giảm bài tiết aldostérone,
- tăng hoạt động của rénine trong huyết tương,
aldostérone không còn đóng vai trò kiểm tra ngược âm tính,
- giảm tổng kháng ngoại biên với tác động ưu
tiên trên cơ và trên thận, do đó không gây giữ muối nước hoặc nhịp tim nhanh
phản xạ trong điều trị lâu dài.
Tác động hạ huyết áp của perindopril cũng được
thể hiện ở những bệnh nhân có nồng độ rénine thấp hoặc bình thường.
Perindopril tác động qua trung gian của một
chất chuyển hóa có hoạt tính là perindoprilate, các chất chuyển hóa khác không
có hoạt tính.
Các đặc trưng của tác động hạ huyết áp :
Perindopril có hiệu lực ở mọi giai đoạn của cao
huyết áp : nhẹ, vừa và nặng ; Perindopril được ghi nhận làm giảm huyết áp tâm
thu và tâm trương, ở tư thế nằm và tư thế đứng.
Tác động hạ huyết áp tối đa từ 4 đến 6 giờ sau
khi dùng liều duy nhất và duy trì ít nhất trong 24 giờ.
Khả năng ức chế men chuyển còn rất cao ở thời
điểm giờ thứ 24 : nằm trong khoảng 80%. Ở những bệnh nhân có đáp ứng, huyết áp
được trở lại bình thường sau 1 tháng điều trị, và duy trì ở mức ổn định không
tái lại.
Khi ngưng thuốc không xảy ra hiện tượng huyết
áp tăng vọt trở lại.
Perindopril có đặc tính giãn mạch, khôi phục
lại tính đàn hồi của động mạch lớn và làm giảm phì đại thất trái.
Trong trường hợp cần thiết, có thể phối hợp với
thuốc lợi tiểu nhóm thiazide sẽ có tác dụng hiệp đồng. Ngoài ra, phối hợp thuốc
ức chế men chuyển và thuốc lợi tiểu nhóm thiazide sẽ giảm nguy cơ hạ kali huyết
so với khi chỉ dùng một mình thuốc lợi tiểu.
Cơ chế tác động trên huyết động ở bệnh nhân
suy tim :
Perindopril làm giảm hoạt động của tim :
- do tác động làm giãn tĩnh mạch, do điều chỉnh
sự chuyển hóa của prostaglandine : giảm tiền gánh ;
- do giảm tổng kháng ngoại biên : giảm hậu
gánh.
Các nghiên cứu được thực hiện ở bệnh nhân suy
tim cho thấy rằng :
- giảm áp lực đổ đầy thất trái và phải,
- giảm tổng kháng ngoại biên,
- tăng lưu lượng tim và cải thiện chỉ số tim,
- tăng lưu lượng máu đến cơ.
Các nghiệm pháp gắng sức cũng được cải thiện.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Dùng đường uống, perindopril được hấp thu nhanh
chóng. Tỷ lệ hấp thu chiếm 65 đến 70% liều dùng.
Perindopril được thủy phân thành
perindoprilate, là một chất ức chế chuyên biệt men chuyển angiotensine. Thức ăn
có thể làm thay đổi lượng perindoprilate hình thành. Đỉnh hấp thu của
perindoprilate trong huyết tương đạt được sau 3 đến 4 giờ. Gắn kết với protéine
huyết tương dưới 30% nhưng lệ thuộc vào nồng độ.
Sau khi dùng perindopril với liều duy nhất hàng
ngày trong nhiều ngày, tình trạng cân bằng được ổn định lại trung bình sau
khoảng 4 ngày. Thời gian bán hủy của perindoprilate trong khoảng 24 giờ. Các
nồng độ của perindoprilate trong huyết tương cao một cách đáng kể ở bệnh nhân có
thanh thải créatinine dưới 60 ml/phút, do suy thận hoặc do cao tuổi. Sự đào thải
thuốc cũng chậm ở bệnh nhân suy thận.
Sự thanh thải perindopril do thẩm phân là 70
ml/phút.
Ở bệnh nhân xơ gan, động học của perindopril có
thay đổi : thanh thải qua gan của phân tử mẹ giảm còn phân nửa. Tuy nhiên, lượng
perindoprilate hình thành không giảm và không cần thiết phải chỉnh liều.
Thuốc ức chế men chuyển qua được nhau thai.
CHỈ ĐỊNH
Cơ địa bị suy giảm miễn dịch : nguy cơ
bị giảm bạch cầu trung tính/mất bạch cầu hạt.
Các thuốc ức chế men chuyển đôi khi ngoại lệ có
thể gây mất bạch cầu hạt và/hoặc gây suy tủy khi chúng được sử dụng :
- ở liều cao,
- ở bệnh nhân suy thận phối hợp với các bệnh hệ
thống (bệnh collagène như lupus ban đỏ rải rác hoặc bệnh xơ cứng bì), được điều
trị bằng thuốc làm giảm miễn dịch và/hoặc những thuốc có khả năng gây giảm bạch
cầu. Trường hợp phối hợp nhiều loại thuốc, cần theo dõi sát mức độ dung nạp ở
máu và ở thận.
Việc chấp hành tốt các chế độ liều lượng khuyến
cáo có thể ngăn ngừa tốt nhất việc xảy ra các tai biến trên. Tuy nhiên, nếu sử
dụng thuốc ức chế men chuyển trên nhóm bệnh nhân này, cần cân nhắc kỹ giữa hiệu
quả điều trị và các nguy cơ.
Phù mạch (phù Quincke) :
Phù mạch ở mặt, đầu chi, môi, lưỡi, thanh môn
và/hoặc thanh quản đôi khi cũng được ghi nhận trong một số hiếm trường hợp điều
trị bằng thuốc ức chế men chuyển, kể cả perindopril. Trong những trường hợp này,
phải ngưng ngay perindopril và theo dõi bệnh nhân cho đến khi hết hẳn phù. Nếu
chỉ bị phù ở mặt và lưỡi, có thể tự khỏi không cần phải điều trị, có thể dùng
các thuốc kháng histamine để làm dịu các triệu chứng.
Nếu phù mạch phối hợp với phù thanh quản có thể
gây tử vong. Nếu phù sang đến lưỡi, thanh môn hoặc thanh quản, có thể gây nghẹt
thở, cần phải được xử lý ngay lập tức bằng cách tiêm dưới da dung dịch
adrénaline 1o/oo (0,3 ml đến 0,5 ml) và áp dụng các biện pháp cấp cứu
thích hợp.
Không được tiếp tục kê toa thuốc ức chế men
chuyển ở những bệnh nhân này (xem Chống chỉ định).
Bệnh nhân đã có tiền sử bị phù Quincke không
liên quan đến việc dùng thuốc ức chế men chuyển cũng có nguy cơ cao khi dùng
loại thuốc này.
Lọc máu :
Các phản ứng giống phản vệ (phù lưỡi và môi với
khó thở và giảm huyết áp) cũng được ghi nhận khi làm thẩm phân dùng màng có tính
thấm cao (polyacrylonitrile) ở những bệnh được điều trị bằng thuốc ức chế men
chuyển. Nên tránh phối hợp này.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
- Ho khan được ghi nhận khi sử dụng thuốc ức
chế men chuyển, có đặc tính dai dẳng và khỏi khi ngưng thuốc. Nguyên nhân do
thuốc có thể được nghĩ đến, tuy nhiên nếu việc điều trị bằng thuốc ức chế men
chuyển là cần thiết, có thể duy trì điều trị.
- Trẻ em : hiệu lực và mức độ dung nạp của
perindopril ở trẻ em chưa được thiết lập.
- Trường hợp suy tim, mất muối-nước, v.v. :
nguy cơ bị hạ huyết áp và/hoặc suy thận.
Có sự kích thích hệ thống
rénine-angiotensine-aldostérone đã được ghi nhận, đặc biệt ở bệnh nhân bị mất
muối-nước quan trọng (ăn kiêng theo chế độ không có muối hoặc điều trị kéo dài
bằng thuốc lợi tiểu), ở bệnh nhân có huyết áp động mạch ban đầu thấp, trường hợp
bị hẹp động mạch thận, suy tim sung huyết hoặc xơ gan cổ trướng phù báng.
Thuốc ức chế men chuyển có thể phong bế hệ
thống này, nhất là trong lần sử dụng đầu tiên và trong hai tuần lễ đầu điều trị,
có thể gây ra tụt huyết áp đột ngột và/hoặc, mặc dù rất hiếm và thời hạn thay
đổi, tăng créatinine huyết tương gây suy thận chức năng đôi khi cấp tính.
Trong những trường hợp nêu trên, cần bắt đầu
điều trị với liều thấp và tăng từ từ (xem Liều lượng và Cách dùng).
- Người già : cần đánh giá chức năng thận và
kali huyết trước khi bắt đầu điều trị (xem Liều lượng và Cách dùng). Liều ban
đầu được điều chỉnh lại sau đó tùy theo đáp ứng về huyết áp, nhất là trong
trường hợp mất muối-nước, nhằm tránh tụt huyết áp có thể xảy ra đột ngột.
- Trường hợp suy thận (thanh thải créatinine
dưới 60 ml/phút) : giảm liều. Ở những bệnh nhân này và ở những bệnh nhân bị bệnh
cầu thận, nên theo dõi định kỳ kali và créatinine (xem Liều lượng và Cách dùng).
- Bệnh nhân bị xơ vữa động mạch : do nguy cơ bị
hạ huyết áp có thể xảy ra trên tất cả bệnh nhân, cần phải đặc biệt thận trọng ở
những bệnh nhân có bệnh tim thiếu máu cục bộ hoặc suy tuần hoàn não, bằng cách
bắt đầu điều trị ở liều thấp.
- Bệnh nhân bị cao huyết áp do thận : nguyên
tắc điều trị cao huyết áp do thận là vấn đề tái tưới máu thận (tái tạo mạch máu
thận). Tuy nhiên, các thuốc ức chế men chuyển có thể có ích ở những bệnh nhân
này trong thời gian chờ đợi phẫu thuật điều chỉnh hoặc trường hợp không thể phẫu
thuật được. Khi điều trị phải dùng liều ban đầu thấp và theo dõi chức năng thận
cũng như kali huyết, một vài bệnh nhân có thể bị tăng suy thận chức năng, tuy
nhiên sẽ hồi phục lại khi ngưng điều trị.
- Bệnh nhân suy tim nặng (giai đoạn IV) hoặc
đái tháo đường lệ thuộc insuline (có khuynh hướng tăng kali huyết) : khi điều
trị phải được theo dõi y khoa chặt chẽ và liều ban đầu phải thấp.
- Bệnh nhân cao huyết áp với suy mạch vành :
không ngưng thuốc chẹn bêta ; phối hợp thuốc ức chế men chuyển với thuốc chẹn
bêta.
- Ghép thận hoặc thẩm phân máu :
Thiếu máu với giảm hàm lượng hémoglobine đã
được ghi nhận, và giảm nhiều nếu dùng liều ban đầu cao. Tác dụng này dường như
không phụ thuộc vào liều lượng nhưng có liên quan đến cơ chế tác động của các
thuốc ức chế men chuyển.
Việc giảm này ở mức độ trung bình, xảy ra trong
thời hạn khoảng 1 đến 6 tháng, sau đó ở mức ổn định. Sẽ khỏi sau khi ngưng điều
trị. Việc điều trị có thể được áp dụng nhưng cần phải kiểm tra máu thường xuyên.
- Can thiệp phẫu thuật : trường hợp có dùng
thuốc gây vô cảm, và thường xảy ra hơn khi sử dụng các loại thuốc gây vô cảm có
thể gây hạ huyết áp, thuốc ức chế men chuyển là nguồn gốc của việc hạ huyết áp.
Nên ngưng điều trị nếu có thể, và nên ngưng hai ngày trước khi can thiệp đối với
những thuốc ức chế men chuyển có tác động kéo dài như perindopril.
LÚC CÓ THAI
Các nghiên cứu trên thú vật cho thấy không có
tác dụng gây quái thai, nhưng có độc tính trên phôi thai của nhiều loài.
Ở phụ nữ có thai được điều trị bằng thuốc ức
chế men chuyển :
- chưa có nghiên cứu dịch tễ học rộng rãi ;
- một vài quan sát riêng rẽ ở phụ nữ có thai
trong ba tháng đầu cho thấy rằng nói chung có thể bảo đảm về phương diện không
gây quái thai ngoại trừ một vài trường hợp dị dạng vòm sọ có liên quan đến việc
dùng lâu dài thuốc ức chế men chuyển trong thời gian mang thai.
- dùng thuốc trong 3 tháng giữa và 3 tháng
cuối, và nhất là nếu tiếp tục cho đến khi sinh, dễ có nguy cơ gây tổn thương
thận có thể gây giảm chức năng thận của bào thai với đôi khi bị thiểu ối, suy
thận ở trẻ sơ sinh, với hạ huyết áp và tăng kali huyết, thậm chí vô niệu (có hồi
phục hoặc không).
Từ đó rút ra rằng :
Nguy cơ gây dị dạng, nếu có, rất thấp. Không
cần thiết phải phá thai khi tình cờ phát hiện có thai trong khi đang điều trị.
Tuy nhiên cần siêu âm để kiểm tra vòm sọ.
Ngược lại, nếu phát hiện có thai khi đang điều
trị bằng thuốc ức chế men chuyển, cần ngưng ngay thuốc này và trong suốt thai
kỳ.
LÚC NUÔI CON BÚ
Khuyên không nên phối hợp :
- Thuốc lợi tiểu tăng kali huyết
(spironolactone, triamtérène, một mình hoặc phối hợp...), kali (dạng muối) :
tăng kali huyết (có thể gây tử vong), nhất là ở bệnh nhân suy thận (phối hợp tác
động làm tăng kali huyết). Không phối hợp thuốc lợi tiểu tăng kali huyết với
thuốc ức chế men chuyển, trừ trường hợp bệnh nhân bị hạ kali huyết.
- Lithium : tăng lithium huyết có thể đến
ngưỡng gây độc (do giảm bài tiết lithium ở thận). Nếu bắt buộc phải dùng thuốc
ức chế men chuyển, cần theo dõi sát lithium huyết và điều chỉnh liều.
Cần thận trọng khi phối hợp :
- Thuốc trị đái tháo đường (insuline, sulfamide
hạ đường huyết) ; mô tả cho captopril, énalapril :
Tăng tác dụng hạ đường huyết ở bệnh nhân đái
tháo đường được điều trị bằng insuline hoặc sulfamide hạ đường huyết. Hiếm khi
xảy ra các biểu hiện khó chịu do hạ đường huyết (cải thiện sự dung nạp glucose
do đó giảm nhu cầu insuline).
Tăng cường tự theo dõi đường huyết.
- Baclofène : tăng tác dụng hạ huyết áp.
Theo dõi huyết áp động mạch và điều chỉnh liều
thuốc hạ huyết áp nếu thấy cần.
- Thuốc lợi tiểu : nguy cơ hạ huyết áp đột ngột
và/hoặc suy thận cấp tính khi dùng thuốc ức chế men chuyển trường hợp bệnh nhân
trước đó đã bị mất muối-nước.
Trong cao huyết áp động mạch, nếu việc điều trị
bằng thuốc lợi tiểu trước đó gây mất muối-nước (đặc biệt ở bệnh nhân đã hoặc
đang được điều trị bằng thuốc lợi tiểu, hoặc theo chế độ ăn kiêng không có muối,
hoặc ở bệnh nhân chạy thận), cần phải :
- hoặc ngưng thuốc lợi tiểu trước khi bắt đầu
dùng thuốc ức chế men chuyển, và sau đó có thể dùng trở lại thuốc lợi tiểu hạ
kali huyết nếu cần thiết,
- hoặc dùng liều ban đầu thấp thuốc ức chế men
chuyển và tăng liều từ từ.
Ở bệnh nhân suy tim sung huyết được điều trị
bằng thuốc lợi tiểu, bắt đầu bằng liều rất thấp thuốc ức chế men chuyển, có thể
sau khi đã giảm liều thuốc lợi tiểu hạ kali huyết dùng phối hợp.
Trong mọi trường hợp, cần theo dõi chức năng
thận (créatinine huyết) trong các tuần lễ đầu điều trị bằng thuốc ức chế men
chuyển.
Một số phối hợp cũng cần nên lưu ý :
- Thuốc kháng viêm không stéroide (do suy luận
từ indométacine) : giảm tác dụng hạ huyết áp (do thuốc kháng viêm không stéroide
gây ức chế các prostaglandine có tác dụng giãn mạch và phénylbutazone gây giữ
muối-nước).
- Thuốc chống trầm cảm nhóm imipramine (ba
vòng), thuốc an thần kinh : tăng tác dụng hạ huyết áp và nguy cơ hạ huyết áp thế
đứng (hiệp đồng tác dụng).
- Corticoide, tétracosactide : giảm tác dụng hạ
huyết áp (do corticoide gây giữ muối-nước).
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Về phương diện lâm sàng :
- Nhức đầu, suy nhược, cảm giác chóng mặt, rối
loạn tính khí và/hoặc rối loạn giấc ngủ, vọp bẻ.
- Hạ huyết áp theo tư thế hoặc không (xem Chú ý
đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
- Phát ban ngoài da.
- Đau bao tử, chán ăn, buồn nôn, đau bụng, thay
đổi vị giác.
- Ho khan được ghi nhận khi sử dụng thuốc ức
chế men chuyển. Ho có tính chất dai dẳng và sẽ khỏi khi ngưng điều trị. Nguyên
nhân do thuốc phải được xét đến khi có những triệu chứng trên.
- Ngoại lệ : phù mạch (phù Quincke) : xem Chú ý
đề phòng và Thận trọng lúc dùng.
Về phương diện sinh học :
- Tăng vừa phải urê và créatinine huyết tương,
hồi phục khi ngưng điều trị. Việc tăng này thường gặp hơn ở bệnh nhân bị hẹp
động mạch thận, cao huyết áp được điều trị bằng thuốc lợi tiểu, bệnh nhân suy
thận. Trường hợp bị bệnh cầu thận, dùng thuốc ức chế men chuyển có thể gây
protéine niệu.
- Tăng kali huyết, thường là thoáng qua.
- Thiếu máu (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng
lúc dùng) được ghi nhận khi dùng thuốc ức chế men chuyển trên những cơ địa đặc
biệt (như ghép thận, lọc máu).
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Perindopril dạng viên nên uống trước bữa ăn.
Perindopril được uống một lần duy nhất trong
ngày, vào buổi sáng.
Cao huyết áp vô căn :
- Nếu bệnh nhân trước đó không bị mất muối-nước
hoặc suy thận (hoặc trong các chỉ định thông thường) : liều hữu hiệu là 4
mg/ngày uống một lần vào buổi sáng. Tùy theo đáp ứng của bệnh nhân, có thể điều
chỉnh liều, tuy nhiên phải tăng từ từ từng nấc liều trong vòng 3 đến 4 tuần lễ,
cho đến tối đa 8 mg/24 giờ, uống một lần vào buổi sáng.
Nếu cần thiết, có thể phối hợp với thuốc lợi
tiểu không làm tăng kali huyết nhằm tăng tác động hạ huyết áp.
- Trong cao huyết áp đã được điều trị trước đó
bằng thuốc lợi tiểu :
- hoặc ngưng thuốc lợi tiểu trước 3 ngày, sau
đó có thể dùng trở lại nếu thấy cần thiết,
- hoặc dùng liều ban đầu là 2 mg và điều chỉnh
liều tùy theo đáp ứng về huyết áp thu được.
Nên định lượng créatinine huyết tương và kali
huyết trước khi điều trị và trong 15 ngày đầu điều trị.
- Ở người già (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng
lúc dùng) : dùng liều khởi đầu thấp (2 mg/ngày, vào buổi sáng), và tăng lên nếu
cần, cho đến 4 mg sau khoảng 1 tháng điều trị.
Có thể điều chỉnh liều theo chức năng thận của
bệnh nhân trong trường hợp mà liều được đề nghị trên không phù hợp được với tuổi
tác (xem phía dưới).
Mức độ thanh thải créatinine, được tính dựa
trên créatinine huyết, thay đổi theo tuổi, trọng lượng và giới tính, theo biểu
thức Cockcroft*, chẳng hạn, phản ánh một cách chính xác tình trạng của chức năng
thận ở người già :
* Thanh thải créatinine = (140 - tuổi) x trọng
lượng / 0,814 x créatinine huyết
(với tuổi được tính theo năm, trọng lượng tính
theo kg, créatinine huyết tính theo mmol/l).
Công thức này áp dụng cho nam giới và đối với
phụ nữ thì phải lấy kết quả nhân cho 0,85.
- Trong cao huyết áp do thận : nên bắt đầu ở
liều 2 mg/ngày, sau đó đánh giá lại tùy theo đáp ứng của bệnh nhân đối với trị
liệu.
Cần kiểm tra créatinine huyết và kali huyết
nhằm phát hiện trường hợp suy thận chức năng có thể xảy ra (xem Chú ý đề phòng
và Thận trọng lúc dùng).
- Trường hợp suy thận : liều perindopril được
điều chỉnh theo mức độ suy thận :
- nếu thanh thải créatinine >= 60 ml/phút,
không cần phải chỉnh liều,
- nếu thanh thải créatinine < 60 ml/phút : từ
30 đến 60 ml/phút : 2 mg/ngày ; từ 15 đến 30 ml/phút : 2 mg, uống 1 ngày nghỉ 1
ngày.
Ở những bệnh nhân này, cần theo dõi định kỳ
kali và créatinine, chẳng hạn mỗi 2 tháng trong thời gian ổn định trị liệu.
Có thể phối hợp với thuốc lợi tiểu vùng quai.
- Ở bệnh nhân cao huyết áp có chạy thận (thanh
thải créatinine < 15 ml/phút) : perindopril có thẩm tách được (xem Chú ý đề
phòng và Thận trọng lúc dùng). Mức độ thẩm tách là 70 ml/phút.
Dùng liều 2 mg ở ngày chạy thận.
Suy tim sung huyết :
Liều khởi đầu thật thấp, đặc biệt trong trường
hợp :
- huyết áp động mạch lúc đầu trung bình hoặc
thấp,
- suy thận,
- hạ natri huyết, nguyên nhân do thuốc (thuốc
lợi tiểu) hoặc không.
Thuốc ức chế men chuyển có thể được dùng phối
hợp với thuốc lợi tiểu và có thể phối hợp với digitalis.
Nên khởi đầu điều trị bằng liều 2 mg uống một
lần vào buổi sáng, theo dõi huyết áp và có thể tăng liều đến liều hữu hiệu thông
thường trong khoảng 2 đến 4 mg/ngày, uống một lần vào buổi sáng.
Lưu ý không để huyết áp tâm thu ở tư thế đứng
giảm dưới 90 mm Hg.
Hạ huyết áp có triệu chứng có thể xảy ra ở bệnh
nhân suy tim có nguy cơ (như suy tim nặng, bệnh nhân được điều trị bằng thuốc
lợi tiểu liều cao). Liều ban đầu phải giảm phân nửa (ứng với 1 mg/ngày).
Cần kiểm tra créatinine huyết và kali huyết mỗi
khi có tăng liều, sau đó mỗi 3 đến 6 tháng tùy theo mức độ suy tim, nhằm kiểm
tra sự dung nạp của điều trị.
QUÁ LIỀU