Clobetasol propionate là một corticoid
tác dụng rất mạnh.
Miconazole nitrate là thuốc kháng nấm và
kháng khuẩn mạnh phổ rộng có hoạt tính cao đối với vi nấm ngoài da
(dermatophyte) và nấm men gây bệnh (như Candida spp.) và nhiều vi khuẩn Gram
dương kể cả hầu hết các chủng Staphyloccus spp. và Streptococcus spp.
Gentamicin là kháng sinh diệt khuẩn
thuộc họ aminoglycoside hoạt tính trên vi khuẩn Gram dương và Gram âm.
CHỈ ĐỊNH
Dermovate đặc biệt có giá trị trong điều trị
ngắn ngày các bệnh da khó điều trị như :
Vẩy nến (ngoại trừ vẩy nến dạng mảng lan rộng)
; chàm dai dẳng khó chữa ; Liken phẳng ; Lupus ban đỏ hình dĩa, và một số bệnh
da khác không đáp ứng thỏa đáng với các corticoid hoạt tính kém hơn.
Tenovate-G được chỉ định trong tất cả các bệnh
da có chỉ định dùng Dermovate, nhưng khi có, hoặc nghi ngờ là có, hoặc dễ xảy ra
nhiễm khuẩn thứ phát.
Tenovate-M được chỉ định trong tất cả các bệnh
da có chỉ định dùng Dermovate, nhưng khi có, hoặc nghi ngờ là có, hoặc dễ xảy ra
nhiễm thứ phát vi nấm và/hoặc nấm men Candida, như khi bôi thuốc có băng kín, ví
dụ trong điều trị vẩy nến.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Mụn trứng cá đỏ, mụn trứng cá thường và viêm da
quanh miệng.
Chứng ngứa quanh hậu môn và ngứa vùng sinh dục.
Nhiễm virus da nguyên phát (ví dụ herpes
simplex, thủy đậu).
Quá mẫn với thuốc.
Các dạng Dermovate dùng ngoài da không được chỉ
định điều trị các sang thương da nhiễm trùng nguyên phát gây ra bởi nhiễm vi
khuẩn hoặc vi nấm. Bệnh da ở trẻ em dưới 1 tuổi, kể cả viêm da và hăm đỏ da do
tã lót.
Chế phẩm chứa gentamicin không nên dùng cho
bệnh viêm tai ngoài nếu màng nhĩ bị thủng vì nguy cơ nhiễm độc tai.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Nên tránh điều trị liên tục dài ngày với
Dermovate nếu có thể tránh được, nhất là đối với nhũ nhi và trẻ em, vì có thể
xảy ra tình trạng ức chế tuyến thượng thận, ngay cả khi không băng kín vùng được
bôi thuốc.
Trong trường hợp cần sử dụng Dermovate cho trẻ
em, có khuyến cáo rằng toa điều trị cần phải được thầy thuốc kiểm tra lại hàng
tuần.
Cần lưu ý rằng tã lót của trẻ nhũ nhi có tác
dụng như khi băng kín vùng da được bôi thuốc.
Vùng mặt dễ bị teo da hơn các vùng da khác trên
cơ thể khi điều trị kéo dài bằng các corticoid tác dụng tại chỗ mạnh. Cần ghi
nhớ điều này khi điều trị các bệnh da như vẩy nến, lupus ban đỏ dạng đĩa và chàm
nặng. Khi bôi thuốc lên vùng da quanh mắt, cần phải thận trọng không để thuốc
rơi vào mắt, vì có thể gây glaucoma.
Các corticoid tác dụng tại chỗ có thể có nguy
cơ gây hại khi được dùng điều trị vẩy nến vì một số nguyên nhân, bao gồm tái
phát nảy ngược, khả năng lờn thuốc, nguy cơ gây vẩy nến dạng mụn mủ toàn thân,
và khả năng gây độc tại chỗ hoặc toàn thân do chức năng hàng rào bảo vệ của da
đã bị hư hại. Khi dùng corticoid bôi da để điều trị vẩy nến, cần phải theo dõi
cẩn thận tình trạng bệnh nhân.
Khi sang thương viêm có nhiễm trùng, nên điều
trị kháng sinh thích hợp. Khi có dấu hiệu nhiễm trùng lan rộng, cần phải ngưng
sử dụng corticoid ngoài da và cần phải điều trị kháng sinh đường toàn thân. Khi
băng kín vùng da được bôi thuốc, da trở nên ấm và ẩm sẽ tạo điều kiện cho nhiễm
khuẩn phát triển, vì vậy cần phải rửa sạch vùng da trước khi bôi thuốc và đặt
băng sạch lên trên.
Sử dụng Tenovate-G trên diện rộng ở những bệnh
nhân cao tuổi và bệnh nhân suy thận có thể có nguy cơ do nhiễm độc tai.
Sử dụng Tenovate-G trên diện rộng hoặc lặp đi
lặp lại có thể tăng nguy cơ mẫn cảm da do tiếp xúc.
LÚC CÓ THAI
Cũng như các corticoid tác dụng tại chỗ khác,
khi được sử dụng với một lượng lớn kéo dài, hoặc được điều trị trên một diện
tích da rộng lớn, thuốc có thể được hấp thụ toàn thân với một lượng đủ để gây
nên các biểu hiện của tình trạng cường vỏ thượng thận. Tác dụng này dễ xảy ra
hơn ở trẻ nhũ nhi và trẻ em, và trong cách điều trị thuốc có băng kín. Ở trẻ nhũ
nhi, tã lót có thể có tác dụng như khi băng kín vùng da được bôi thuốc.
Với liều lượng không được quá 50 g mỗi tuần lễ
đối với người lớn, bất cứ biểu hiện nào của tình trạng ức chế trục hạ
đồi-yên-thượng thận cũng thường thoáng qua và hồi phục nhanh sau khi ngưng liệu
pháp điều trị ngắn ngày.
Điều trị kéo dài với liều cao corticoid tác
dụng mạnh có thể gây teo da tại chỗ như các vết nứt da, mỏng da, dãn các mạch
máu bề mặt, đặc biệt là khi điều trị thuốc có băng kín, hoặc trên vùng nếp gấp
da.
Có những báo cáo ghi nhận sự thay đổi sắc tố da
và rậm lông khi sử dụng các corticoid bôi da.
Trong trường hợp hiếm gặp, điều trị (hoặc ngưng
điều trị) bệnh vẩy nến bằng corticoid được cho là đã khởi phát dạng mụn mủ của
bệnh.
Thông thường, Dermovate được dung nạp tốt,
nhưng nếu có dấu hiệu quá mẫn, nên ngưng dùng thuốc ngay.
Tình trạng nặng thêm các triệu chứng có thể xảy
ra.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Bôi một lớp mỏng thuốc lên vùng da bệnh một lần
hay hai lần mỗi ngày. Nên ngưng điều trị ngay sau khi đạt hiệu quả mong muốn.
Không nên điều trị liên tục quá bốn tuần mà
không kiểm tra tình trạng bệnh nhân. Có thể lặp lại các đợt điều trị ngắn hạn
bằng Dermovate để kiểm soát các đợt bệnh trở lại trầm trọng. Nếu cần điều trị
liên tục bằng corticoid, nên sử dụng dạng corticoid nhẹ hơn.
Đối với sang thương rất khó điều trị, đặc biệt
ở vùng da dày sừng, hiệu quả kháng viêm của Dermovate có thể được tăng cường,
nếu xét thấy cần thiết, bằng cách băng kín vùng da được bôi thuốc bằng màng film
polythene. Thường chỉ cần băng kín qua đêm là đủ mang lại đáp ứng mong muốn. Sau
đó, bôi thuốc không cần phải băng kín, thông thường bệnh vẫn có thể tiếp tục
được cải thiện.
QUÁ LIỀU