Hoa cúc sơ phong tiết
nhiệt, pḥng chống cảm cúm
Lương y VƠ HÀ
Hoa cúc có tác dụng sơ
phong tiết nhiệt, làm nhẹ đầu mắt. Trong pḥng chống cảm cúm,
hiệu quả kháng viêm và cải thiện hệ miễn dịch của hoa cúc
có thể rút ngắn thời
gian bệnh và làm giảm các triệu chứng ho, sốt, nhức đầu, nghẹt
mũi.
Cúc
hoa hay hoa cúc là một vị thuốc được
sử dụng từ lâu đời.
Tất cả các loài hoa cúc đều có thể dùng làm thuốc.
Tuy nhiên, do hiệu suất cao, hoàng cúc tức hoa cúc vàng,
tên khoa học
Chrysanthemum indicum L.
thường được sử dụng trong Đông y.
Hoàng cúc được trồng để
lấy hoa làm cảnh, làm thuốc, ướp chè hoặc cất rượu.
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học phương Tây đặc
biệt quan tâm đến gia trị dược học của hoa cúc tím, thường gọi
là hoa cúc dại (HCD), tên khoa học là
Echinacea purpurea.
Hoa cúc trong y học
cổ truyền.
Theo cổ thư, hoa cúc vị
đắng, tính mát, vào 3 kinh Can, Phế, Vị, có tác dụng thanh Can,
tiết nhiệt. Hoa cúc thường dùng để chữa các chứng đau mắt, chóng
mặt, nhức đầu, giải phong nhiệt. Liều dùng trung b́nh từ 9 đến
12 g mỗi ngày. Dùng độc vị hoặc sử dụng chung với vài loại thuốc
cùng nhóm như màn kinh tử, thảo quyết minh.
Theo Hải Thượng Lăn Ông,
hoa cúc vị ngọt, đắng, hơi cay, không độc, vừa thăng vừa giáng,
làm nhẹ đầu, sáng mắt , an tràng vị, bổ cho âm khí, chữa được
mọi chứng nhiệt lại có thể làm cho xanh tóc, thêm tuổi thọ[i].
Nhiều sách thuốc Trung Quốc có ghi lại toa thuốc giúp
khỏe mạnh, sống lâu bằng
“Cao hoa cúc” do
2 ngự y Trương trọng Nguyên và Đào Bảo Sinh lập cho Từ Hi Thái
hậu uống. (Cao hoa cúc được chế bằng cách dùng nước sắc hoa cúc
tươi nấu cô lại với mật ong .)
Ngoài hoàng cúc, kinh
nghiệm dân gian cũng dùng các thành phần của hoa cúc các loại,
kể cả HCD để chữa cảm, sốt, làm mát huyết, sát trùng, giải độc.
Sách “Trồng, hái và dùng cây thuốc”[ii]
của Lương y Lê Trần Đức
có ghi
“Hoa cúc dại vị đắng,
cay, có tác dụng mát huyết, giải
độc, chữa ung nhọt, viêm tuyến vú, viêm họng, cảm sốt, ho gà,
rắn cắn.”
Nghiên cứu khoa học
về HCD.
Nhiều nước phương Tây đă
có truyền thống sử dụng HCD để làm thuốc.
Theo Bách Khoa toàn thư[iii]
về thảo dược ở nước Anh, HCD là loại dược thảo có tác dụng giải
độc tốt nhất cho hệ thống tuần hoàn và hệ thống hô hấp. HCD rất
thông dụng ở các dân tộc Bắc Mỹ và châu Âu.
Các nhà khoa học cho biết các hoạt chất của HCD vừa có
tính kháng viêm giống như cortisone[iv].vừa
có tác dụng kháng khuẩn.
Nghiên cứu của Tiến sĩ
Jurg Gertsch, thuộc Viện Công Nghệ Swiss
đă cho biết những hoạt chất alkylamides trong
HCD có khả năng điều chỉnh 1 trong những yếu tố quan
trọng nhất của hệ miễn dịch được gọi là tumor necrosis factor
alpha (TNF-a).
Alkylamides kích thích hoạt động của TNF-a để gia tăng sức đề
kháng chống lại những tác động có hại của vi trùng, vi khuẩn[v].
Hoa cúc c̣n có ưu thế ở
những bệnh về mắt.
Hoạt chất trong hoa cúc không chỉ giúp giải toả những áp lực ở
mắt từ những bệnh cảm cúm theo mùa hoặc hiện tượng khí nghịch
của Đông y mà c̣n có khả
năng cải thiện hoạt động ở những mao mạch, tăng cường lưu thông
khí huyết đến mắt. Những chất chống oxy hoá trong hoa cúc
có khả năng trung hoà những gốc tự do để bảo vệ những cấu
trúc collagen ở mắt.
Do đó, hoa cúc giúp cải thiện một số bệnh măn tính về mắt
do thoái hoá các tổ chức ở khu vực nầy.
Nói chung những kết quả
về sát trùng, kháng khuẩn, bảo vệ mắt, tăng cường hệ miễn dịch
của y học hiện nay về HCD cũng trùng khớp với những
lư luận về sơ Can giải độc, giáng hoả làm nhẹ đầu, mặt
của Đông y đối với hoa cúc.
Tuy nhiên, y học phương Tây thường chỉ tập trung nghiên
cứu về dược tính của HCD. Từ
những năm 1960s, sau khi những nghiên cứu về tác dụng của HCD
được phổ biến rộng răi, nhiều công ty dược ở phương Tây đă bắt
đầu cho trồng đại trà HCD.
Ngày nay đă có những cánh đồng bạt ngàn những hoa cúc
tím. Hàng trăm chế
phấm từ loại thảo dược nầy đă được
sản xuất.
Tại sao lại là hoa cúc
tím mà không phải là hoa cúc trắng hay hoa cúc vàng như y học
phương Đông thường dùng?
Những nghiên cứu về tác dụng của những chất chống oxy hoá
cho thấy trong những loại thực vật cùng tính chất, loại nào có
màu sắc sậm màu, nhất là màu hồng màu đỏ màu tím sẽ có sự hội tụ
nhiều chất chống oxy hoá nhất, đặc biệt là những hợp chất
anthocyanins[vi],
chất chống oxy hoá rất mạnh. Như vậy, phải chăng hoa cúc tím có
nhiều sắc tố thực vật
nầy hơn nên dược tính cũng cao hơn?
HCD pḥng chống cảm
cúm.
Gần đây, các nhà khoa học
trường Đại học Connecticut đă nghiên
cứu[vii]
tác dụng pḥng chóng cảm cúm của HCD qua 14 cuộc thử nghiệm.
Kết quả nghiên cứu
được công bố trên tạp chí
The
Lancet Infectious
Diseases cho biết những người uống HCD sẽ giảm trung b́nh
58% nguy cơ mắc bệnh cảm và thời gian bệnh cảm cũng giảm đi b́nh
quân 1,5 ngày so với người không sử dụng loại thảo dược này.
Một trong số các thử
nghiệm nói trên đă sử dụng HCD kèm với vitamin C.
Kết quả phối hợp giữa HCD và loại sinh tố nầy làm giảm
đến 86% nguy cơ mắc bệnh. Trong những thử nghiệm khác, khi HCD
được sử dụng độc lập tỉ lệ giảm là 65%.
Trong báo cáo của ḿnh,
nhóm nghiên cứu viết:
“Trong số trên 200 loại
vi-rút có khả năng gây bệnh cảm, HCD ít có hiệu lực với
rhinovirus, nhưng lại có tác dụng đáng kể đối với tất cả những
vi rút c̣n lại”.
Báo cáo cũng cho biết hiện có trên 800 dược phẩm có chứa
HCD, dưới dạng viên, bột, nước quả ép, trà và rượu thuốc. Những
bộ phận khác nhau của HCD như
hoa, lá và rễ cũng được
sử dụng để làm thuốc.
Đối với bệnh cảm, cúm,
giáo sư Ron Cutler, thuộc trường Đại học East London, phát biểu:
“HCD có khả năng rút ngắn
thời gian bệnh và làm giảm mức độ ho, nhức đầu và nghẹt mũi do
bệnh gây ra”. Ông
khuyên những người có hệ miễn dịch kém có thể dùng HCD để pḥng
chống cảm nhiễm.
Tuy nhiên, dù không có báo cáo về độc tính hoặc phản ứng phụ từ
hoa cúc, những người nầy cũng không nên dùng thường xuyên.
Chỉ nên dùng
mỗi đợt từ 1 hoặc 2 tuần.
Sau đó ngưng dùng khoảng
1 tuần để hệ miễn dịch của cơ thể tự điều chỉnh.
Vài phương
thuốc phổ biến có
hoa cúc.
Theo kinh nghiệm chữa
bệnh của Đông y, những cổ phương chữa cảm sốt, dù chỉ dùng hoa
cúc vàng, vẫn có hiệu quả rất cao do có sự kết hợp với nhiều
dược thảo khác cùng có tác dụng giải biểu, sơ phong, tiết nhiệt.
Những vị thuốc nầy cũng bổ sung thêm sinh tố C và nhiều
chất chống oxy hoá để gia tăng hiệu quả kháng viêm và tăng cường
hệ miễn dịch.
Tang cúc ẩm
(chữa ho, sốt, cảm
mạo):
Tang diệp 6g. Cúc hoa 6g,
Liên kiều 4g, Bạc hà 4g, Cát cánh 4g, Cam thảo 4g.
Sắc uống.
Xuyên khung trà điều tán
(chữa ngoại cảm, phong hàn gây đầu nặng, mắt mờ, phát nóng, sợ
lạnh).
Cúc hoa, Xuyên khung,
Kinh giới. Bạc hà, Pḥng phong, Khương hoạt, Hương phụ, Cam
thảo, Bạch chỉ, Tế tân, Khương tàm. Các vị bằng nhau, trộn đều,
tán bột. Uống mỗi lần từ 4 đến 6g.
Nước sinh tố.
Cúc hoa 10g, Rong biển
10g, Thục địa 5g.
Nấu uống trong ngày.
Thêm 1 chút đường phèn vừa hơi ngọt
đủ hợp khẩu vị.
Có thể tăng số lượng và nấu với số lượng lớn giữ ở tủ
lạnh để dùng nhiều ngày.
Nước “sinh tố” là 1 loại thức uống giải khát trong mùa hè
có thể đáp ứng nhu cầu giải khát, giải nhiệt độc, cung cấp thêm
một số sinh tố, chất khoáng và chất chống oxy
hóa để gia tăng sức đề kháng. Tất cả các loại nước sinh
tố đều có tính mát, hơi hàn. Do đó, người có thể tạng hư hàn,
hay đầy bụng, dễ rối loạn tiêu hoá, hay hắt hơi, sổ mũi chỉ nên
dùng vừa đủ, dùng khi khát để tránh trệ Tỳ.
Ích thọ địa tiên hoàn
bổ ngũ tạng, mạnh tinh
tuỷ, mau lành vết thương, tóc đen, mắt sáng.
Cúc hoa 120g, Ba kích
120g, Nhục thung dung 120g, Câu kỷ tử 60g. Tán bột, làm hoàn.
Mỗi ngày dùng 10g với nước ấm. (Cổ kim đồ thư tập thành)
Chữa mắt có màng mộng
:
Hoa cúc, xác ve sầu. Liều
lượng bằng nhau, tán bột.
Uống với nước hoà mật ong, mỗi ngày từ 8 đến 12g. (Nam
Dược thần hiệu).
Chữa nhức đầu, cao huyết
áp, hoa mắt, chóng mặt, hiện tượng ruồi bay do Can Thận âm hư.
Cúc hoa, Thảo quyết minh,
Câu kỷ tử, Thục địa, Huyền sâm, Hoài sơn, Trạch tả. Các vị đều
12g. Sắc uống.
Sát trùng ngoài da, chữa
vết thương hoặc vết cắn do trùng, thú cắn.
Lá hoa cúc giă nát, bả
đắp vào vết thương.
[i]
Hải Thượng
Y Tôn Tâm Lĩnh. Q1. NXB Khai Trí.1973.Tr.453
[ii]
Lê Trần
Đức. Trồng, hái và dùng cây thuốc. NXB NN. 1986. Tr.409.
[iii]
Bown D.
The Encyclopedia of Medicinal Plants. Dorling
Kindersley. London.
[iv]
Echinecea
purpurea. www.pfaf.org
[v]
The power
of Echinacea. www.alive.com
[vi]
Antioxidants.http://tuberose.com/Antioxidants.html
[vii]
Echinacea
can preven a cold. http://news.bbc.co.uk
|