Thực hư về việc nuốt sống hạt đậu đen chữa
bệnh
Lương
y VƠ HÀ
Trong mấy năm gần đây có
rất nhiều tài liệu phát tán trên mạng hoặc chuyền tay phổ biến
phương pháp “nuốt sống 49 hạt đậu đen mỗi sáng” chữa được
nhiều loại bệnh từ táo
bón, ung nhọt, đau lưng, mắt mờ, tai điếc đến tim mạch, tiểu
đường. Hư thực ra
sao trong việc nầy?

Đậu đen có tên khoa học Vigna cylindrica,
thuộc họ cánh bướm Fabaceae.
Trong số các loại đậu làm thực phẩm thông dụng cho con
người, đậu đen được các nhà dinh dưỡng đặc biệt quan tâm.
Tuy hàm lượng đạm thấp hơn đậu nành nhưng đậu đen
lại có một tỷ lệ cân đối nhiều loại acid amin thiết yếu.
Đậu đen c̣n dồi dào hơn về một số khoáng chất như
calcium, sắt, mangnesium, manganese, đặc biệt là hàm lượng cao
chất molypdenum và những sắc tố chống oxy hoá anthocyanins.
Theo Đông y, đậu đen có
vị hơi ngọt, tính hơi hàn, có tác dụng lợi thủy, giải độc, dưỡng
âm bổ thận, khu phong hoạt huyết.
Trên thực tế, đậu đen là
nguồn cung cấp chất xơ, chất đạm và nhiều vi chất quan trọng có
giá trị bổ dưỡng rất cao có thể giúp pḥng chống nhiều loại bệnh
tật. Tuy nhiên, không cần và không nên nuốt sống hạt đậu đen.
Đậu đen bổ Thận, dưỡng năo.
Đông y cho rằng sắc đen thuộc hành Thuỷ,
liên quan đến tạng Thận, có tác dụng dẫn thuốc về Thận. Một số
loại thuốc, nhất là Hà thủ ô, vị thuốc bổ Thận, làm đen râu tóc,
thường được sao tẩm nhiều lần với đậu đen. Hơn nữa, về
mặt “thiên nhân tương ứng”
đậu đen có h́nh dạng giống như quả thận trong thân người.
Do đó, theo Y học cổ truyền, đậu đen có tác dụng bổ Thận.
Thực ra, điều nầy không phải là không có căn cứ. Trước
hết, chất đạm, nhất là arginine trong đậu đen là nguyên liệu
sinh ra tinh. Bảng
phân tách thành phần[i]
của đậu đen đă cho thấy đậu đen có đủ các loại đạm thiết yếu, kể
cả arginine và 3 loại acid amin khác mà khoa học gọi là BCCAs[ii],
leucin, valin và isoleucin.
Mỗi 100g đậu đen cung cấp
0,97g valine; 1,26g leucine và 1,11g isoleucine.
BCAAS là chữ
viết tắt của
branched chain amino
acids là thuật ngữ để chỉ 3 loại acid amin đặc biệt quan
trọng trong nhóm 8
loại acid amin thiết yếu.
BCAAs đôi khi c̣n được gọi là những
stress amino acids,
loại đạm thường dùng để phục hồi hoặc sửa chữa những tổn thương
từ những stress thể lực của những vận động viên và một số trường
hợp bị thương tích nặng hoặc sau phẫu thuật, đặc biệt là cải
thiện khả năng nhận
thức ghi nhớ sau những tổn thương ở năo do bệnh tật hay do
thương tích[iii].
Ngoài ra, khoa học c̣n cho biết một số trường hợp thiếu
chất khoáng
molypdenum[iv],
loại khoáng chất vi lượng có nhiều trong đậu đen, có thể dẫn đến
bất lực ở nam giới.
Phải chăng một số nhận định thoạt nghe có vẻ như hàm hồ của nền
y học cổ đă dần dần được khoa học chứng minh?
Pḥng chống bệnh tim
mạch, tiểu đường, làm chậm lăo hoá.
Chế độ ăn nhiều đậu đen là 1 biện pháp tự
nhiên giúp pḥng chống các loại bệnh thuộc hội chứng chuyển hoá
như cao huyết áp, bệnh tim, tiểu đường.
Ngoài hợp chất polyphenols như các loại hạt khác, đậu đen
c̣n có những sắc tố anthocyanins.
Do đó, lượng chất chống oxy hoá trong đậu đen cao hơn
nhiều so với các loại đậu khác và gấp 10 lần so với quả cam.
Giống như các loại hạt thô khác, đậu đen có
hàm lượng chất xơ cao.
Một chén đậu đen đủ cung cấp hơn phân nửa nhu cầu chất xơ
của 1 người trong 1 ngày.
Chất xơ có khả năng
làm chậm và
giảm sự hấp thu mỡ qua màng ruột đồng thời
kết dính một phần muối mật để đào thải ra ngoài qua đó đă
góp phần làm hạ độ cholesterol trong máu. Tác dụng tổng hợp của
những hợp chất chống oxy hoá và chất xơ có khả năng
làm giảm các loại mỡ xấu LDL và triglycerides.
Những chất chống oxy hóa trong đậu đen c̣n có tác dụng
kháng viêm và ngăn chận sự oxy hóa LDL, loại chất béo có tính ổn
định thấp dễ bị oxy hóa và bám vào thành mạch để tạo nên các
măng xơ vữa. Đậu
đen c̣n có cả một số khoáng chất khác như Ca., Mg. cùng có tác
động ổn định hoạt động tim mạch.
Với tỷ lệ 24,2% chất đạm và 53,3% chất bột
đường và nhiều chất xơ, đậu đen là loại thực phẩm rất tốt cho
người bệnh tiểu đường.
Ăn nhiều đậu đen giúp ngăn chận hiện tượng tăng vọt đường
huyết sau bửa ăn và tiến đến ổn định đường huyết.
Tác dụng giảm độ mỡ và kháng viêm của những hoạt chất
khác trong đậu đen cũng góp phần quan trọng trong điều trị đái
tháo đường hoặc làm giảm những hệ quả xấu do căn bệnh nầy gây
ra.
Như vậy, từ ư nghĩa pḥng chống các loại
bệnh tim mạch, tiểu đường, đậu đen làm giảm nguy cơ tử vong sớm.
Hàm lượng cao chất chống oxy hoá trong loại hạt nầy cũng giúp
trung hoà những gốc tự do chống thoái hoá tế bào và hư hại DNA
cũng là 1 cơ chế làm chậm lăo hoá.
Nguồn dinh dưỡng tốt cho phụ nữ.
Bên cạnh hàm lượng đạm tốt và dễ tiêu hoá,
đậu đen c̣n có thành phần của sắt và folate, 2 loại vi chất cần
thiết cho phụ nữ.
Sắt là loại khoáng chất cần cho sự tạo máu.
Folate tức sinh tố B6 rất cần thiết cho những phụ nữ đang
có thai. Thiếu folate có thể dẫn đến sự phát triển bất b́nh
thường của thai nhi.
Tập hợp nhóm sinh tố B và những khoáng chất Ca., Mg.
trong hạt đậu thô c̣n được xem là những vi chất chống stress
giúp làm nhẹ những cơn bốc hoả ở những phụ nữ tuổi măn kinh.
Đậu đen
và tác dụng giải độc.
Sulfites là loại hoá chất
bảo quản thường được dùng trong một số loại thực phẩm
công nghiệp. Một số người nhạy cảm với sulfites có thể bị tăng
nhịp tim, nhức đầu, giảm sự tập trung.
Molypdenum trong đậu đen là
thành phần của những
enzym oxidase có tác dụng khử độc sulfites.
Một chén đậu đen có chứa
tới 172% nhu cầu khoáng chất molypdenum cần thiết cho cơ thể
trong ngày.
Ngoài
ra, thành phần chất xơ cao trong đậu đen, nhất là chất xơ hoà
tan trong nước, có vai tṛ rất quan trọng trong việc làm tăng
lượng phân, tăng nhu động ruột, chống táo bón, kết dính nhiều
loại độc tố để thải ra ngoài giúp giảm nguy cơ một số rối loạn ở
ruột già kể cả một số loại ung thư.
Nên dùng đậu đen như thế nào?
Đậu
đen khô là loại hạt cứng nên thựng được ngâm nước cho mềm trước
khi nấu. Nuốt sống
nguyên nhiều hạt đậu cùng lúc dễ sinh tâm lư ngán ngại lại có
thể nguy hiểm cho một số trường hợp tiêu hoá kém, viêm loét dạ
dày, chưa kể đến việc các cháu bé do không quen hoặc do sợ nuốt
có thể làm cho hạt đậu lạc vào đường thở
gây ngạt.
Nói chung những cách sử dụng đậu đen truyền thống như
nấu chè, độn cơm, làm tương, làm bánh đều tận dụng được những
hoạt chất trong đậu miễn là dùng hạt toàn phần, dùng cả vỏ đen
bên ngoài. Ngoài
ra, theo những nghiên cứu[v]
tại trường Đại học
Minnesota, quá tŕnh nẩy mầm làm gia
tăng tỷ lệ dinh dưỡng trong tất cả các loại hạt.
Do đó, nếu ngâm đậu vào trong nước thường khoảng 32oC
trong khoảng 22 giờ trước khi nấu sẽ tạo ra nhiều chất bổ dưỡng
hơn do hạt đậu ở trạng thái đang nẩy mầm.
Như vậy, ngâm đậu trước khi nấu không chỉ để rút ngắn
thời gian đun nấu, đậu mềm dễ tiêu hoá mà c̣n có thể sinh ra
nhiều dưỡng chất hơn nếu ngâm với thời gian vừa đủ để hạt nhú
mầm.
Đậu
đen toàn phần với tỷ lệ khá cân đối đạm, đường, nhiều chất xơ và
vi chất quan trọng khác có thể xem là loại hạt dễ t́m và có
nhiều ưu thế so với nhiều loại hạt khác.
Do đó, rất dễ nhận thấy chế độ ăn nhiều ngũ cốc và rau
qủa bao gồm đậu đen sẽ hổ trợ tốt cho việc chữa trị nhiều loại
bệnh. Tuy nhiên,
không nên cho rằng đậu
đen chữa được tất cả các loại bệnh hoặc ở tất cả mọi giai đoạn
của bệnh. Việc điều
trị các loại bệnh măn tính đều phải dựa vào những biện pháp tổng
hợp bao gồm tâm lư thoải mái, vận động đều đặn và việc tiết giảm
những loại thực phẩm chế biến, thuốc lá, rượu mà không thể chỉ
dựa vào 1 bài thuốc hay vị thuốc đơn thuần.
[i] Đỗ Tất Lợi. Những
Cây Thuốc và Vị Thuốc Việt Nam. NXBYH. 2006.Tr.240
[ii] Madelene Ellis.
Branched Chain Amino Acids. www.healthnews.com
[iii] With amono
acids diet mice improve after brain injury.
www.sciencedaily.com
[iv] Five benefits
of black beans. http://healthmad.com
[v] Jen Allbritton.
What’s the deal with sprouting. www.healthcentral.com
|