www YKHOANET

Y HỌC PHỔ THÔNG

Cấp cứu

Sức khỏe trẻ em

Sức khỏe người cao tuổi

Sức khỏe phụ nữ

Cao huyết áp

Bệnh thường gặp

Khớp

Huyết học

Tai mũi họng

Tâm thần

Răng hàm mặt

Bệnh mắt

Pháp y

Thẩm mỹ

Kỹ thuật y khoa

Da liễu

Hỏi đáp sức khỏe

 

 

CHUYÊN ĐỀ GIỚI TÍNH

Nghiên cứu t́nh dục học

Thắc mắc biết hỏi ai

Giới tính

Sách giáo dục giới tính

Sức khỏe t́nh dục

Tṛ chuyện về t́nh dục

HIV/AIDS

Bệnh của cơ quan sinh dục

 

SÁCH THAM KHẢO

260 bệnh tật trẻ em

Bác sĩ vui tính

Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm

Giấc ngủ trẻ em

Sức khỏe phụ nữGiải phẫu thẩm mỹ

 

 

RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ư
(Attention dificit hyperactivity disorder- ADHD)

BS Ngô Văn Lương
Khoa Tâm Thần BVTW Huế

Rối loạn tăng động giảm chú ư (ADHD) là một rối loạn đă được biết đến từ hơn 100 năm trước đây, đặc trưng bởi sự kết hợp của một hành vi hoạt động quá mức, thiếu kiềm chế với giảm chú ư rơ rệt và thiếu kiên tŕ trong mọi công việc. Rối loạn này có tỷ lệ mắc khá cao, ở lứa tuổi học sinh cấp I là 3-5% , hay gặp nhất ở 8 – 11 tuổi và tỷ lệ trẻ trai so với trẻ gái là 3/1 ; các triệu chứng thường giảm nhiều và một số mất đi khi đến tuổi trưởng thành. Ở tuổi 20 tỉ lệ mắc c̣n chừng 1% và ở tuổi trung niên là 0,5%. 

ADHD bắt đầu sớm trong quá tŕnh phát triển, thường là trước 5 tuổi. Các nét đặc trưng chính là thiếu sự kiên tŕ trong các hoạt động đ̣i hỏi sự tham gia của nhận thức và có khuynh hướng chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác, nhưng không hoàn thành hoạt động nào cả, kết hợp vói một sự hoạt động quá mức, thiếu tổ chức và kém điều tiết. Những trẻ này thường dại dột, xung động, dễ bị tai nạn và bản thân chúng thường vi phạm kỷ luật do không tôn trọng các quy tắc (v́ thiếu suy nghĩ hơn là cố t́nh chống đối). Các quan hệ của chúng đối với người lớn thường là thiếu kiềm chế, thiếu thận trọng và dè dặt, chúng thường  không được các trẻ khác thừa nhận và có thể trở nên bị cô lập. Cũng thường gặp các tật chứng về nhận thức và các trạng thái chậm phát triển đặc hiệu về vận động và ngôn ngữ đi kèm.

ADHD biểu hiện bằng 3 đặc trưng chính:
     - Giảm sự chú ư: biểu hiện bằng sự bỏ dở các hoạt động trong khi chưa hoàn thành nên thường không hoàn thành tốt công việc.  Thường chuyển một cách nhanh chóng từ hoạt động này sang hoạt động khác, không chú ư đến công việc đang làm v́ thường bị hấp dẫn bởi một công việc khác.
     - Tăng hoạt động: biểu hiện bằng sự hoạt động quá mức, đặc biệt trong những hoàn cảnh đ̣i hỏi có sự yên tĩnh . Trẻ thường chạy nhảy liên tục, hoặc đứng dây khỏi chỗ trong khi được yêu cầu ngồi yên, nói nhiều quá mức và làm ồn ào, hoặc cựa quậy không ngừng trong khi ngồi.
     -Thiếu kiềm chế: biểu hiện bằng sự thiếu kiểm soát trong các mối quan hệ xă hội, sự dại dột trong những hoàn cảnh nguy hiểm, sự coi thường các qui tắc xă hội một cách xung động là nét đặc trưng của trẻ có rối loạn này.

Kiểm tra trạng thái tâm thần có thể thấy những dấu hiệu sau:
        + Sự xuất hiện thường xuyên của tăng hoạt động và giảm tập trung. Trẻ em với ADHD có thể biểu hiện hay cựa quậy, không thể ngồi yên, chạy liên tục quanh pḥng. Người lớn bị ADHD có thể hay đăng trí, đứng ngồi không yên và hay quên.
        + Cảm xúc thường thích hợp và có thể vui vẻ, nhưng không khoái cảm. Khí sắc b́nh thường, không ảnh hưởng bởi ADHD.
        + Lời nói có tốc độ b́nh thường nhưng có thể to hơn. Quá tŕnh suy nghĩ được định hướng với nội dung b́nh thường.
        + Sự tập trung chú ư giảm, bệnh nhân ADHD có thể gặp khó khăn với những bài tập tính toán và những nhiệm vụ đ̣i hỏi trí nhớ tạm thời. Sự định hướng, trí nhớ dài hạn, hay ư nghĩ trừu tượng không bị ảnh hưởng.

Nguyên nhân của rối loạn cho đến nay vẫn chưa được biết rỏ. Các bằng chứng đă cho thấy rằng một nguyên nhân duy nhất không thể giải thích được cho rối loạn này.

Trước tiên, rối loạn có thể biểu hiện  với sự tổn thương sinh học hay  loạn chức năng hệ thần kinh trung ương. Những biểu hiện của loạn chức năng theo giả thiết này là những khó khăn trong việc kiểm tra sự tự điều chỉnh, tổ chức quá tŕnh thông tin, sự chú ư, sự phản ứng xă hội và sự kiềm chế thích hợp (Douglas - 1983, Cohalen - 1989).. Tuy nhiên, tổn thương năo  trước, trong và sau khi sinh không được chứng minh là có liên quan đến rối loạn này.
Nhiều nghiên cứu đă cho thấy tỷ lệ của rối loạn nhân cách chống xă hội, chứng nghiện rượu, lạm dụng ma tuư ở cha và rối loạn phân ly ở mẹ của trẻ ADHD không liên quan trong việc phân biệt những trẻ có và không kèm theo các vi phạm về đạo đức. August và Steward ( 1983 ) th́ cho rằng những rối loạn ở cha mẹ được kể ở trên đi kèm với ADHD chỉ khi hội chứng cùng xảy ra với những rối loạn khác. Tuy vậy,  cha của trẻ ADHD thường cũng có biểu hiện tương tự hoặc đă có trong thời thơ ấu. Điều này gợi ư là có yếu tố di truyền.
Zametkin và Rapopoit th́ cho rằng chức năng catecholamine và sự điều tiết của nó rất có khả năng liên quan đến nguyên nhân gây bệnh và điều trị ADHD. Một số nghiên cứu lại phát hiện ở trẻ ADHD methylphenidate và dextroamphetamine gây ra việc tiết nhanh nhiều các hóc môn tăng trưởng.

Thomson và cộng sự ( 1989 ) đă phát hiện  mức  ch́ trong máu cao có khả năng gây các vấn đề về hành vi và nhận thức ở trẻ.

Một số nghiên cứu gần đây sử dụng kỷ thuật chụp cắt lớp có đồng vị phóng xạ ( PET ) đă chứng minh được những thay đổi về phát triển trong suốt thời thơ ấu và vị thành niên  theo mật độ của thụ thể dopamine, lượng máu năo và sử dụng glucose ở thùy trán.

Nhiều  nghiên cứu  cũng đă  quan tâm đến các yếu tố tâm lư xă hội. Một số báo cáo chỉ ra sự liên quan giữa stress gia đ́nh và địa vị kinh tế xă hội thấp với tỷ lệ mắc ADHD. Sự hiện diện của t́nh trạng dễ bị thương tổn sinh học cùng với sự gia tăng ly hôn, cha mẹ làm việc suốt ngày, cha mẹ và thầy cô giáo ít quan tâm chăm sóc có thể làm cho trẻ dễ bị rối loạn hơn trẻ b́nh thường.

Tóm lại, sự dễ tổn thương sinh học và các yếu tố tâm lư xă hội, môi trường cùng tương tác để tạo ra nguyên nhân, tính phức tạp và hậu quả của rối loạn.

Về điều trị, những nghiên cứu gần đây đă nói lên rằng liệu pháp hoá học có hiệu quả hơn liệu pháp hành vi hay chăm sóc tại cộng đồng. Dùng thuốc kết hợp với liệu pháp hành vi được cho là hợp lư nhất. Liệu pháp bao gồm :

- Thuốc:

      1.  Methylphenidate ( Ritalin), Dextroamphetamine ( Dexedrin):
           +  Nên bắt đầu với liều lượng thấp nhất và điều chỉnh dần cho phù hợp với hiệu lực lâm sàng và sự dung nạp thuốc.
           +  Mục đích nhắm tới bao gồm giải quyết xung động, giảm tập trung, khó hoàn thành công việc, tăng hoạt động và giảm chú ư.
           +  Lưu ư không uống thuốc gần lúc đi ngủ v́ thuốc có thể gây mất ngủ.
        2. Thuốc chống trầm cảm SSRI (Venlafaxine…), thuốc chống trầm cảm ba ṿng (Imipramine, Nortriptyline…)  được sử dụng khi có lo âu, trầm cảm. An thần kinh cũng có thể dùng để làm giảm bớt hoạt động nhưng chú ư đề pḥng gây an dịu quá mức.

     - Liệu pháp hành vi: 

        + Có kết quả tốt khi được sử dụng kết hợp với chế độ thuốc hiệu quả.
        + Làm việc với bố mẹ trẻ và nhà trường để thiết lập môi trường có lợi cho sự tập trung và chú ư là cần thiết.
        + Liệu pháp hành vi nhằm giúp trẻ giảm bớt những dự định không chắc chắn và tăng cường sự tổ chức.

     - Đối với người lớn bị ADHD, lao động để làm giảm bớt sự sao lăng và tăng cường kỹ năng tổ chức là việc làm có ích.

     - Việc giáo dục cho người bệnh và các thành viên gia đ́nh họ là rất quan trọng. Khuyến khích việc dùng thuốc, giáo dục việc điều khiển hành vi, tập luyện kỹ năng xă hội và thường xuyên điều chỉnh lại nhận thức. Để chăm sóc trẻ mắc ADHD một cách tốt nhất cần thực hiện các vấn đề sau (theo ư kiến của các chuyên gia thuộc Đại học Michigan):

        1. Hăy chú ư đến những phẩm chất tốt của trẻ và nói cho trẻ biết điều này.

        2. Khi muốn khen ngợi trẻ hăy cho trẻ biết đă làm những hành động nào tốt và bạn rất thích những hành động đó.

        3. Hăy dùng lời lẽ nhẹ nhàng để hướng dẫn trẻ làm việc.

        4. Cho trẻ biết bạn muốn trẻ làm như thế này thế kia thay v́ bảo trẻ đừng làm điều này điều kia.

        5. Do thuốc điều trị ADHD có thể ảnh hưởng đến sự ngon miệng của trẻ nên chú ư nấu cho trẻ những bữa ăn ngon và đầy đủ chất dinh dưỡng.

        6. Luôn để mắt đến trẻ khi trẻ chơi và tập thể dục thể thao để ngăn ngừa các chấn thương có thể xảy ra do các hoạt động hiếu động thái quá của trẻ.


 

 


Chăm sóc sức khoẻ tâm thần: 1 bác sĩ/100.000 dân03/12/2012
Rối loạn tâm thần tăng cao03/12/2012
Bệnh tâm thần phân liệt có di truyền không?03/12/2012
Thuốc Prozac có thể làm tăng khuynh hướng muốn tự tử03/12/2012
Chuyện ghi ở Bệnh viện Tâm thần Trung ương I 03/12/2012
BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT 03/12/2012
Rối loạn nhân cách chống xă hội03/12/2012
Kẻ cắp 4.000 chiếc đồ lót phụ nữ03/12/2012
Mắc tâm thần v́... học03/12/2012
TÁC ĐỘNG CỦA THẢM HOẠ ĐẾN SỨC KHOẺ TÂM THẦN VÀ CÁC BIỆN PHÁP CHĂM SÓC, HỖ TRỢ TÂM LƯ03/12/2012
Tự tử v́ áp lực học căng thẳng?03/12/2012
NHẬN DIỆN “TRẦM CẢM CHE DẤU”03/12/2012
TẠI SAO LẠI KHOE “CỦA QUÍ”?03/12/2012
Đi tù v́ trộm tóc phụ nữ 03/12/2012
Methadone có giúp cai nghiện?03/12/2012
LIỆU PHÁP TÂM LƯ GIA Đ̀NH  TRONG ĐIỀU TRỊ TÂM THẦN PHÂN LIỆT 03/12/2012
PHẪU THUẬT TÂM THẦN.03/12/2012
RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ư03/12/2012
Rối loạn đa nhân cách03/12/2012
THẦY THUỐC CŨNG CÓ THỂ LÀ NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH.03/12/2012
THẦY THUỐC CŨNG CÓ THỂ LÀ NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH.03/12/2012

YKHOANET

 

BS PHAN XUÂN TRUNG

"Lăng tử giữa thương trường"


 WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Hệ thống phần mềm quản lư bệnh viện
YKHOA.NET

 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM
www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - phanxuantrung@ykhoa.net

Gởi bài tham gia YKHOANET