BỆNH NHÂN ÐÁI THÁO ÐƯỜNG TYPE 2 CẦN TIÊM INSULIN CÓ PHẢI LÀ BỊ BỆNH NẶNG HƠN?

Tác giả : Thạc sĩ NGUYỄN QUANG BẢY (Khoa Nội tiết - ÐTÐ, BV. Bạch Mai)

Nhiều bệnh nhân đái tháo đường (ÐTÐ) type 2 thường có quan niệm sai lầm rằng, nếu họ có thể dùng được các thuốc uống để điều trị ÐTÐ là do bệnh còn nhẹ, nhưng khi phải điều trị bằng tiêm insulin tức là bệnh đã nặng. Vì vậy họ thường rất hoảng hốt, lo sợ khi được bác sĩ chỉ định tiêm insulin để kiểm soát đường máu. Chính sự không hiểu biết đầy đủ hoặc lo lắng quá mức này mà một số người đã không tuân thủ đúng chỉ định của thầy thuốc, làm ảnh hưởng kết quả điều trị, dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm. Hy vọng bài viết sau đây có thể giúp các bạn hiểu rõ hơn về vai trò, tác dụng và những lợi ích của điều trị insulin ở các bệnh nhân ÐTÐ type 2.

1. Những phương pháp điều trị bệnh ÐTÐ

Trong cơ thể, insulin do tụy sản xuất ra - là chất duy nhất có khả năng làm hạ đường máu. Vì thế bất cứ nguyên nhân gì làm tụy giảm tiết insulin (ÐTÐ type 1) hoặc insulin tụy được tiết ra với số lượng bình thường nhưng chất lượng bị sút kém (hay còn gọi là kháng insulin - gặp trong ÐTÐ type 2) đều làm tăng đường máu. Ðường máu tăng cao là thủ phạm chính gây ra các biến chứng nguy hiểm như suy thận, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, mù lòa... Do đó các biện pháp điều trị ÐTÐ đều nhằm mục đích đưa đường máu trở về bình thường. Hiện nay có 4 phương pháp chính được sử dụng đơn thuần hoặc kết hợp với nhau để điều trị bệnh ÐTÐ, đó là:

- Chế độ ăn.

- Tập luyện thể dục thể thao.

- Tiêm insulin. Tùy thời gian tác dụng mà người ta chia ra các loại insulin nhanh, bán chậm, chậm hoặc hỗn hợp (mixtard - trộn lẫn loại tác dụng nhanh và bán chậm).

- Dùng các thuốc uống có tác dụng kích thích tụy sản xuất nhiều hơn insulin (nhóm Sulfamide) hoặc làm tăng tác dụng của insulin (thuốc Metformin và thuốc nhóm Thiazolidinedion).

Ở các bệnh nhân ÐTÐ type 1, tụy gần như không tiết được insulin nữa nên việc điều trị bằng tiêm insulin để khống chế đường máu là bắt buộc. Còn với các bệnh nhân type 2, do tác dụng của insulin bị giảm nên có thể điều trị bằng cách uống các thuốc nêu trên.

2. Khi nào bệnh nhân ÐTÐ type 2 cần phải tiêm insulin?

Ở đa số các bệnh nhân ÐTÐ type 2, dùng các thuốc uống kết hợp với chế độ ăn và tập luyện thể thao có thể giữ đường máu ở mức bình thường trong thời gian dài. Tuy nhiên có một số tình huống bệnh nhân cần được tiêm insulin, đó là:

a. Thường gặp nhất là các bệnh nhân đã được chẩn đoán ÐTÐ lâu (trên 10 năm), sử dụng các thuốc uống kích thích tụy làm việc nhiều hơn để sản xuất được lượng insulin lớn hơn nhằm bù đắp sự thiếu hụt về chất lượng và số lượng insulin (giống như việc bắt một người phải làm việc quá sức mình). Do đó sau một thời gian dài liên tục phải làm việc quá sức, tụy bị suy kiệt nặng chỉ sản xuất được lượng rất ít, thậm chí là mất hẳn khả năng sản xuất insulin nên các thuốc uống, dù với liều tối đa cũng không còn tác dụng nữa. Ðể có thể khống chế được đường máu, bắt buộc phải đưa insulin từ ngoài vào. Thời gian tiêm insulin có thể là 2-3 tháng, trong thời gian này tụy được nghỉ ngơi và phục hồi lại khả năng tiết insulin đủ cho nhu cầu của cơ thể, nhưng cũng có thể cần tiêm kéo dài nhiều năm, có khi là vĩnh viễn nếu tụy đã bị suy kiệt hoàn toàn, nhất là ở những người gầy, người có đường máu tăng cao liên tục trong thời gian dài. Ước tính mỗi năm có khoảng 5% các bệnh nhân ÐTÐ type 2 phải chuyển sang tiêm insulin, nghĩa là sau 10 năm được phát hiện ra bệnh ÐTÐ thì đã có tới 1/2 các bệnh nhân type 2 phải điều trị bằng insulin.

b. Khi bệnh nhân bị mắc một số bệnh cấp tính như nhiễm trùng (viêm phổi, nhiễm trùng bàn chân...) hoặc bị tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim... Các bệnh này khiến cơ thể cần nhiều insulin hơn nữa (do tác dụng của insulin bị giảm nặng), nên dù vẫn uống thuốc liều như cũ, thậm chí với liều cao hơn cũng không thể ổn định được đường máu. Trong trường hợp này, các bác sĩ sẽ ngừng hoàn toàn các thuốc uống để tiêm insulin, thời gian tiêm insulin phụ thuộc vào kết quả điều trị các bệnh cấp tính mà họ đang mắc, nhưng thường chỉ trong một vài tuần.

c. Nếu bệnh nhân có những biến chứng mạn tính của ÐTÐ như suy gan, suy thận, suy tim nặng hoặc có các bệnh như viêm gan, xơ gan... thì đó là chống chỉ định dùng các thuốc uống làm hạ đường máu. Các bệnh nhân này thường sẽ phải chuyển sang tiêm insulin vĩnh viễn.

Hoặc do bệnh nhân có một số biến chứng nặng khác như biến chứng thần kinh (tê bì hoặc nóng rát), biến chứng mắt (tổn thương đáy mắt nặng), cần đưa đường máu về bình thường trong thời gian ngắn nhằm làm giảm các biến chứng hoặc để can thiệp sớm thì điều trị insulin tạm thời cũng là cần thiết.

d. Có một số bệnh nhân ÐTÐ type 2 được chẩn đoán muộn hoặc do bỏ điều trị thời gian khá dài... có đường máu tăng rất cao (khoảng > 18mmol/l) cũng cần điều trị insulin tạm trời vì đường máu cao trong thời gian dài sẽ ức chế khả năng tiết insulin của tụy, dùng các thuốc uống sẽ không có tác dụng. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn tiêm insulin đưa đường máu về bình thường thì tụy lại đáp ứng với các thuốc uống, và lúc này có thể ngừng tiêm insulin được.

e. Ngoài ra còn phải tiêm insulin cho các bệnh nhân ÐTÐ type 2 trong một số tình huống đặc biệt như khi có thai, khi phẫu thuật, khi bị hôn mê do đường máu tăng quá cao...

3. Cách thức tiêm insulin: Khi cần tiêm insulin, các bệnh nhân ÐTÐ type 2 có thể được chỉ định tiêm 2-3 mũi/ngày, thay thế hoàn toàn các thuốc uống, hoặc chỉ tiêm một mũi vào buổi chiều tối kết hợp và vẫn dùng các thuốc uống vào ban ngày.

a. Chỉ định tiêm insulin 1 mũi cho các bệnh nhân đã được dùng thuốc uống (1 hoặc 2, thậm chí 3 loại) ở liều tối đa mà đường máu vẫn còn cao hơn. Tùy bệnh nhân, các bác sĩ có thể cho tiêm insulin vào trước bữa ăn tối (bằng insulin bán chậm hoặc mixtard) hoặc tiêm trước khi đi ngủ, trong khoảng 21-22 giờ (chỉ sử dụng insulin bán chậm).

b. Chỉ định tiêm insulin 2 hoặc nhiều mũi khi bệnh nhân đã dùng thuốc uống liều tối đa mà đường máu vẫn còn rất cao, hoặc khi bệnh nhân có các chống chỉ định dùng thuốc uống; Khi bệnh nhân đã được cho tiêm một mũi insulin vào buổi tối nhưng vẫn không kiểm soát được đường máu. Có thể sử dụng tất cả các loại insulin nhanh, bán chậm hoặc mixtard.

4. Những lợi ích của việc điều trị insulin cho các bệnh nhân ÐTÐ type 2:

a. Giúp kiểm soát đường máu dễ và nhanh hơn. Tiêm insulin cho phép điều chỉnh liều thuốc đơn giản, dễ dàng, có thể thay đổi liều thuốc từng 2 đơn vị và thay đổi liều mỗi ngày.

b. Nếu đường máu cao trước khi tập thể dục thể thao, lao động hoặc trước khi bắt đầu các hoạt động dã ngoại, việc tiêm một mũi insulin để nhanh chóng đưa đường máu về bình thường sẽ giúp bệnh nhân tránh được nguy cơ bị nhiễm toan cê-tôn hoặc đường máu tăng quá cao sau khi hoạt động thể lực nặng.

c. Ðiều trị an toàn hơn vì insulin có thể dùng được cho tất cả những bệnh nhân ÐTÐ, kể cả khi họ có các biến chứng rất nặng như suy gan, suy thận, nhồi máu cơ tim... hoặc các bệnh nhân cao tuổi.

d. Kéo dài thời gian dùng được các thuốc uống hạ đường máu. Tiêm insulin giúp duy trì khả năng tiết insulin của tụy, đáp ứng lâu dài hơn với các thuốc uống hạ đường máu.

e. Với những bệnh nhân thể trạng gầy, khi tiêm insulin thường có cảm giác ăn ngon miệng hơn nên có thể tăng cân về mức bình thường.

f. Các bệnh nhân điều trị insulin sau một thời gian thường có cảm giác thoải mái, dễ chịu, làn da sáng hơn so với khi điều trị bằng các thuốc uống đơn thuần, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

Tóm lại: Ðiều trị insulin là cần thiết cho nhiều bệnh nhân ÐTÐ type 2, có khi là tất yếu trong quá trình diễn biến của bệnh nhưng nó hoàn toàn không đồng nghĩa với việc là bệnh nặng hơn hoặc đã ở giai đoạn cuối - mà chỉ đơn giản là sự thay đổi phương thức điều trị để đạt được kết quả tốt nhất mà thôi. Tuy có khi phải tiêm insulin trong thời gian dài, thậm chí đến cuối đời nhưng cũng có nhiều bệnh nhân chỉ phải tiêm insulin tạm thời trong thời gian ngắn. Việc lấy thuốc và tiêm insulin không phải là quá phức tạp, ngoài ra các loại bút tiêm insulin có thể cũng giúp bạn tiêm được insulin một cách đơn giản và hầu như không đau.  

 

Tiểu đường

Biến chứng nhiễm khuẩn ở bệnh nhân tiểu đường
Bạn cần biết về bệnh tiểu đường
Bệnh nhân tiểu đường có được uống rượu không
Bệnh nhân tiểu đường nên coi chừng cả Alzheimer
Bệnh nhân tiểu đường nên mua máy đo đường huyết tại nhà
Bệnh nhân tiểu đường ốm nhẹ thành nặng
Bệnh nhân ðái tháo ðường có ðược uống rượu không
Bệnh nhân ðái tháo ðường type 2 cần tiêm insulin có phải là bị bệnh nặng hơn
Bệnh nhân đái tháo đường phải làm gì khi bị bệnh
Bệnh nhân đái tháo đường tập thể thao
Bệnh tiểu đường
Bệnh đái đường - BS Nguyễn Thanh Sơn
Chăm sóc bàn chân cho bệnh nhân tiểu đường
Chăm sóc bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường
Các cách giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường
Các phương thức mới ðưa insuline vào cơ thể
Các tiến bộ trong lĩnh vực điều trị bệnh đái tháo đường
Khi bị tiểu đường cần chú ý bảo vệ đôi bàn chân
Liệu pháp tâm lý cho bệnh nhân tiểu đường
Muốn tránh bệnh tiểu đường, hãy uống cà phê
Một số vấn đề cần biết về bệnh đái tháo đường
Phòng ngừa biến chứng do bệnh đái tháo đường
Rối loạn cương dương ở bệnh nhân tiểu ðường type ii
Sử dụng insulin trong điều trị tiểu đường
Sử dụng insulin trong điều trị đái tháo đường
Thử nghiệm nhanh HgA1c giúp phát hiện bệnh tiểu đường
Tin nga81n - Bệnh tiểu đường có thể truyền từ mẹ sang con
Tin ngắn - Bệnh tim 'thầm lặng' ở người bị tiểu đường
Tin ngắn - Cần cảnh giác với tiền tiểu đường
Tin ngắn - Giải pháp mới cho bệnh nhân tiểu đường
Tin ngắn - Phương pháp làm giảm nguy cơ bị tiểu đường
Tin ngắn - Thuốc lá làm tăng nguy cơ tử vong ở bệnh nhân tiểu đường
Tiểu đường nguy hiểm nhưng diễn tiến thầm lặng
Điều trị bệnh đái tháo đường khi bạn đi du lịch hoặc đi công tác xa

Bệnh nội tiết khác

Bệnh basedow có thể gây tử vong
Bệnh suy tuyến giáp trạng
Bệnh viêm tuyến giáp
Bệnh đái tháo nhạt
Chứng hạ đường huyết
Hoóc môn tăng trưởng hGH- vị thuốc cải lão hoàn đồng
Mổ nội soi tuyến ức - hy vọng mới cho bệnh nhân nhược cơ
Những người nổi tiếng bị mắc các bệnh nội tiết - chuyển hóa
Suy tuyến yên gây nhiều bệnh lý nghiêm trọng

OMEGAFYC Solucion

Trình bày:: Chai 150ml

Giá bán sỉ: 330,000 đồng/chai

Xuất xứ: FERNANDEZ Y CANIVELL S.A

Thành phần:

- Mỗi 10ml có:

  • Omega: 350mg (Tương đương DHA: 15mg + EPA Potassium dihydrogen Phosphate: 450mg).
  • Phụ liệu: Glycerine (E422), sorbate postassium E202, acid carminique E120, sữa ong chúa, các chất điều vị, hương, nước vừa đủ.

Công dụng:

  • Giúp bổ sung acid béo không no (DHA, EPA) cho cơ thể.
  • Hỗ trợ chức năng hệ tim mạch
  • Hỗ trợ sức khỏe trí não và mắt

Đặt mua tai Shop BS Trung giá luôn luôn rẻ hơn giá gốc.

 

THƯ MỤC Y HỌC PHỔ THÔNG
Bệnh da liễu
Bệnh hệ huyết học
Bệnh hệ hô hấp
Bệnh hệ tim mach
Bệnh hệ tiêu hóa
Bệnh hệ tiết niệu
Bệnh ngoại khoa
Bệnh nhãn khoa
Bệnh nội tiết
Bệnh tai mũi họng
Bệnh thường gặp
Bệnh thần kinh
Bệnh truyền nhiễm và ký sinh
Bệnh tâm thần
Bệnh ung bướu
Da liễu - Bệnh của tóc
Da liễu - Bệnh dị ứng
Da liễu - Bệnh ngoài da
Da liễu - Chăm sóc da
Da liễu - Các vấn đề về da
Da liễu - Mụn
Hệ cơ xương khớp - Bệnh cơ và tập luyện
Hệ cơ xương khớp - Bệnh khớp và gout
Hệ cơ xương khớp - Bệnh xương và cột sống
Pháp y
Phương tiện chẩn doán
Sức khỏe du lịch
Sức khỏe sinh sản
Thẩm mỹ